Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Loading...

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Bài làm

Thời đại nhà Trần, một trong những triều đại phong kiến hưng thịnh nhất trong lịch sử Đại Việt. Để có thể có được một thời thế thái bình thịnh trị như vậy, nhà Trần phải có rất nhiều những anh tài xuất chúng và một trong số đó không thể không kể đến Phạm Ngũ Lão – một danh tướng lẫy lừng của Trần triều. Ông là một vị công thần lớn trong công cuộc chiến đấu chống quân xâm lược nhà Nguyên. Nhưng không chỉ có tài về quân sự mà một biệt tài đặc sắc của ông đó là sáng tác thơ ca. Phạm Ngũ Lão có nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước nhưng đáng tiếc thay hiện nay chỉ còn lưu lại hai tác phẩm, một là Vãn thượng tướng quốc công Hưng Đạo đại vương và tác phẩm thứ hai vô cùng sâu sắc là “Tỏ lòng” (Thuật hoài):

Hoành sóc giang san cáp kỉ thu,

Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

đã gợi lên được khí phách của quân đội và người tướng lĩnh vô cùng hiên ngang và tài ba đồng thời cũng bày tỏ quan niệm về chí làm trai phải lập công, lập danh cho đất nước của Phạm tướng quân.

Trong Đại Việt sử ký toàn thư viết, vào năm 1282 quân Nguyên vờ mượn đường để tấn công Chiêm Thành nhưng thực chất muốn tới để xâm lược, đô hộ nước ta. Thấu rõ được mưu đồ của kẻ địch vua Trần mở hội nghị Bình Than bàn kế đánh giặc. Sau đó cử Phạm Ngũ Lão cùng một số vị tướng quân khác lên trấn cửa ải phía Bắc. Và trong lần tới trấn thủ biên ải đó, Phạm tướng quân đã sáng tác nên bài thơ “Tỏ lòng” vừa như có thể bày tỏ được khí phách của quân đội và khả năng chinh chiến của mình để trấn an được lòng quân khi phải đối phó với quân địch vô cùng mạnh, đồng thời, cũng là để thể hiện quan niệm về công danh và khát khao, mong muốn được lập thân, lập nghiệp của một con người trung hiếu với đất nước.

Ngay khi viết lên những lời thơ bày tỏ về kinh nghiệm chiến trường của mình biết bao năm giữ vững đất nước bằn ngọn giáo như để ôn lại một thời ký ức để răn mình không được thua kém khi xưa mà cũng để làm gương cho toàn thể binh lính dưới quyền của ông phấn đấu và học tập theo:

Hoành sóc giang san cáp kỉ thu,

(Múa giáo non sông trải mấy thu,)

Viết chữ “Hoành” đặt ngay ở đầu câu, Phạm Ngũ Lão khắc họa một tư thế hiên ngang mà phải nói là có phần ngang tàng. Cùng với từ “hoành” lại thêm hình ảnh của cây “sóc” khắc họa hình ảnh của một vị tướng cầm ngang ngọn giáo che chắn, bảo vệ, giữ gìn non sông, đất nước. Người anh hùng ấy đứng giữa trời đất sừng sững “đầu đội trời, chân đạp đất” lẫm liệt, oai hùng. Dù có dùng từ ngữ mỹ miều thế nào để miêu tả về sự hiên ngang của Phạm Ngũ Lão cũng không hề phải là phô trương bởi do chiến công, chiến tích mà ông gây dựng được cho đất nước không chỉ ngày một, ngày hai mà là “cáp kỉ thu” (trải mấy thu). Đằng đẵng thời gian, một con người vẫn tận trung báo quốc không chút thay lòng thế mới thấy sâu trong con người ấy là tình yêu nước nồng nàn, sâu sắc. Đọc tới đây, ta chợt nhớ tới hình ảnh người tráng sĩ trong Chinh phụ ngâm khúc: “Múa gươm rượu tiễn chưa tàn –  Chí ngang ngọn giáo cào ngàn hang beo”, hình ảnh của người anh hùng cùng với hình ảnh ngọn giáo luôn luôn khiến chúng ta cảm nhận thấy được sự oai hùng, hiên ngang, hùng dũng hơn bất cứ hình ảnh nào khác.

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão

Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng (Thuật hoài)

Lẫy lừng, hiên ngang đứng trước sóng gió, bão táp cuộc đời mà lại là tướng lĩnh đứng đầu ba quân chính bởi thế nên câu thừa ông đã làm sống dậy hình ảnh một đội quân như loài mãnh thú khí thế át cả thiên nhiên, muôn loài:

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

(Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)

Loading...

Hình ảnh ba quân nghe sao mà oai hũng, mãnh liệt, một hệ thống ba quân thường gồm thủy binh, kị binh, bộ binh đã được coi là chuẩn đội hình của quân đội. Mà không chỉ là một hệ thống quân sự chuẩn mực mà hơn nữa kỉ cương, cũng như sự tinh nhuệ vô cùng hoàn hảo. Bằng sự khéo léo, Phạm Ngũ Lão đã dùng sự so sánh ba quân với loài hổ – chúa sơn lâm và hơn cả còn là loài tì – loài hung thú thượng cổ lai giữa cọp và beo theo như truyền thuyết, thế mới thấy sự mạnh mẽ của đội quân như lấn át không gian, thời gian khí thế ngút trời. Sức mạnh, khí thế ngùn ngụt không chỉ như trường tồn với vũ trụ mà còn lấn át, nuốt trôi cả thiên nhiên, trời đất. Ngay cả chòm sao Ngưu trên trời cũng bị khí thế, sức mạnh của ba quân lấn áp, nuốt trôi như mất hết cả khí thế của một thiên tinh. Thế mới thấy sức mạnh, sự tinh nhuệ của đội quân Trần triều – thời đại thịnh thế đứng đầu trong lịch sử Đại Việt ta lớn lao như thế nào. Bên cạnh đó, những lời thơ cũng như bày tỏ được khao khát, mong muốn, ý chí của Phạm Ngũ Lão khi sử dụng hình ảnh “nuốt trôi chòm sao Ngưu”, mà sao Ngưu chính là một tinh thể của chòm sao Bắc Đẩu tượng trưng cho lũ quân Nguyên ở phía Bắc sẽ bị tam quân của nhà Trần đánh bại tan tành, giữ nguyên vẹn non sông bờ cõi.

Hai câu thơ trên như phác họa một cuộc đời ah hùng, đội quân hùng tráng và những chiến công oanh liệt thì tới câu thơ chuyển này, tác giả muốn bày tỏ với mọi người cũng như chính bản thân mình về món nợ công danh với cuộc đời, với đất nước, với bản thân mình:

Nam nhi vị liễu công danh trái

(Công danh nam tử còn vương nợ)

Sống trong xã hội phong kiến xưa, cùng với lễ nghi của Nho giáo vô cùng nghiêm ngặt nên trách nhiệm, sứ mệnh của người nam nhi vô cùng to lớn, khi sống phải biết lập thân, lập nghiệp xây dựng cho đất nước cũng giống như lời của Nguyễn Công Trứ từng nói: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất,
Không công danh thà nát với cỏ cây” . Phạm Ngũ Lão cũng không phải ngoại lệ, ông cũng phải đặt ra cho mình mục tiêu để có thể góp sức của mình cho đất nước, non sông. Hơn cả ý chí hi sinh của ông, còn là sự tự trọng, tự tôn của một vị hảo hán khi tự ý thức về việc mình còn chưa đạt được thành quả của công danh lừng lẫy thì vẫn còn mang trong mình mối nợ với đất nước, non sông và chính bản thân mình. Từ ý thức đó, ông luôn mang trong mình ý chí, tiến thủ, lập công, lập danh như chính việc ông là tướng lĩnh được chính nhà vua ngự bút để đề bạt ông làm tướng quân trấn giữ biên ải phái Bắc đối đầu trực diện với quân thù mạnh vào bậc nhất thế giới thời bấy giờ – quân Nguyên Mông. Phạm Ngũ Lão quả không hổ danh một vị tướng tài của nhà Trần.

Càng ngẫm, càng nghĩ Phạm tướng quân lại càng “thẹn” với các bậc tiền nhân khi bản thân ông vẫn chưa thể lập được đại công, lưu danh muôn đời. Dẫu rằng ông đã là một vị tướng quân:

Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

(Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu).

Đọc tới đây, mỗi một độc giả đều có thể cảm nhận được một nhân cách, một hoài bão vô cùng lớn lao.  Một anh tài, tay cầm ngang ngọn giáo, giữ gìn non sông đất nước đã trải bao thu, thế mà vẫn nghĩ mình còn chưa tròn vẹn được trung nghĩa với đất nước, còn nợ công danh với cuộc đời, còn “thẹn” với bản thân và bậc tiền nhân đi trước như vị Vũ Hầu. Gia Cát Vũ Hầu một vị quân sư, một nhà chiến lược quân sự, cũng là một bậc tuyệt tri trong thiên hạ thời chiến quốc. Ông là người góp công lớn cho Lưu Bị trong việc gây dựng lại nhà Thục Hán, bởi vậy mà công danh của ông đứng vào bậc nhất thiên hạ. Phạm Ngũ Lão khi đem Vũ Hầu để thể hiện nỗi niềm của mình không phải để phô trương bản thân so sánh với bậc tiền nhân mang sự nghiệp, công danh tối cao trong thiên hạ thế chiến quốc mà còn chính để bày tỏ ước mơ, mong muốn, khao khát, hoài bão, có thể sánh ngang với bậc tiền nhân lưu danh tiếng thơm muôn đời trong sử sách đời sau. Nếu nói tới nỗi “thẹn”, ta cũng từng nhìn thấy trong Thu vịnh của Nguyễn Khuyến: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”, Nghuyễn Khuyến thấy thẹn với ông Đào bởi do không có tài văn thơ, nhân phẩm cao quý như ngài Cao Bằng Uyên. Thế mới thấy, những cái “thẹn” ấy, không mang trong mình sự đớn hèn mà nó là cả một ước mơ, khao khát, của con người vương lên cuộc sống tươi đẹp hơn.

Bằng thể thơ tứ tuyệt đường luật, ngôn ngữ giàu chất biểu cảm, hình ảnh mang sức gợi cảm sâu sắc, những lời thơ sinh động, sâu sắc của Phạm Ngũ Lão trong bài thơ Tỏ lòng đã gợi lên cho ta hình ảnh hiên ngang hùng dũng của một vị tướng bảo vệ non sông, đất nước suốt bao thu. Cùng với đó những lời thơ còn gợi tả cho chúng ta về một lí tưởng cao đẹp của nam nhi dưới thời Nho giáo phong kiến phải lập công, lập danh lưu lại cho đời sau và từ đó tạo nên nét hào khí của các danh sĩ Á Đông.

Đỗ Dũng

Share this post