Những bài văn hay

Ôn tập luyện thi văn bản: “Ánh trăng” (Nguyễn Duy) – Luyện thi tuyển sinh 10

Ôn tập luyện thi văn bản: “Ánh trăng” (Nguyễn Duy) – Luyện thi tuyển sinh 10

Hướng dẫn

Nội dung:

Văn bản: “Ánh trăng” của Nguyễn Duy

I. Tìm hiểu tác giả, tác phẩm:

1. Tác giả: Nguyễn Duy

– Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ở thành phố Thanh Hóa.

– 1966, ông gia nhập quân đội, vào binh chủng Thông tin,tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.

– Sau năm 1975, ông chuyển về làm báo Văn nghệ giải phóng. Từ năm 1977, Nguyễn Duy là đại diện thường trú báo Văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh.

– Nguyễn Duy thuộc thế hệ các nhà thơ quân đội trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu.

– Thơ ông gần gũi với văn hóa dân gian, nhưng sâu sắc mà rất đỗi tài hoa, đi sâu vào cái nghĩa, cái tình muôn đời của con người Việt Nam.

2. Tác phẩm: Ánh trăng

a. Hoàn cảnh sáng tác:

– Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978, tại thành phố Hồ Chí Minh – nơi đô thị phồn hoa, cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình.

– Bài thơ in trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy – tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

b. Bố cục: 3 phần:

– Hai khổ đầu: Vầng trăng trong quá khứ.

– Hai khổ tiếp: Vầng trăng trong hiện tại.

– Hai khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

c. Mạch cảm xúc:

Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ.

c. Chủ đề:

Thông qua hình tượng nghệ thuật “Ánh trăng” và cảm xúc của nhà thơ, bài thơ đã diễn tả những suy ngẫm sâu sắc về thái độ của con người đối với quá khứ gian lao, tình nghĩa.

II. Đọc – hiểu văn bản:

1. Hình ảnh vầng trăng trong quá khứ qua hoài niệm của nhà thơ:

– Hồi nhỏ sống gắn bó: với đồng, với sông, với bể.

– Điệp từ “với” được lặp lại ba lần càng tô đậm thêm sự gắn bó chan hòa của con người với thiên nhiên, với những tươi đẹp của tuổi thơ.

– “Hồi chiến tranh ở rừng” – những năm tháng gian khổ, ác liệt thời chiến tranh: vầng trăng vẫn thân thiết với con người như tri kỉ.

– Nghệ thuật nhân hóa: trăng là người bạn thân thiết, tri âm tri kỉ, là đồng chí cùng chia sẻ những vui buồn trong chiến trận với người lính và nhà thơ.

– Hành quân giữa đêm, trên những nẻo đường chông gai ra mặt trận, những phiên gác giữa rừng khuya lạnh lẽo, những tối nằm yên giấc dưới màn trời đen đặc, người lính đều có vầng trăng bên cạnh. Trăng ở bên, bầu bạn, cùng cảm nhận cái giá buốt nơi “Rừng hoang sương muối” (Đồng chí), cùng trải qua bao gian khổ của cuộc sống chiến đấu, cùng chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ; cùng hân hoan trong niềm vui thắng trận, cung xao xuyến, bồn chồn, khắc khoải mỗi khi người lính nhớ nhà, nhớ quê…

-“Trần trụi với thiên nhiên/ hồn nhiên như cây cỏ”: Vầng trăng trong quá khứ hồn nhiên, vô tư và chân thành như cái hồn của cỏ cây, đồng ruộng.

– Phép liên tưởng đầy tính nghệ thuật “trần trụi với thiên nhiên”, so sánh độc đáo “hồn thiên như cây cỏ”. Hình ảnh thơ cho ta thấy rõ hơn vẻ đẹp bình dị, mộc mạc, trong sáng, rất đỗi vô tư, hồn nhiên của vầng trăng. Đó cũng chính là hình ảnh con người lúc bấy giờ: vô tư, hồn nhiên, trong sáng.

-“không bao giờ quên… vầng trăng tình nghĩa”: thể hiện tình cảm thắm thiết với vầng trăng.

– Vầng trăng đã gắn bó thân thiết với con người từ lúc nhỏ đến lúc trưởng thành,cả trong hạnh phúc và gian lao. Trăng là vẻ đẹp của đất nước bình dị, hiền hậu; của thiên nhiên vĩnh hằng, tươi mát, thơ mộng. Vầng trăng không những trở thành người bạn tri kỉ, mà đã trở thành “vầng trăng tình nghĩa” biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung.

2. Hình ảnh vầng trăng trong hiện tại:

– Hoàn cảnh sống thay đổi: Đất nước hòa bình, những gian lao đã không còn nữa.

– Hoàn cảnh sống thay đổi: xa rời cuộc sống giản dị của quá khứ, con người được sống sung túc trong “ánh điện cửa gương” – cuộc sống đầy đủ, tiện nghi, khép kín trong những căn phòng hiện đại, xa rời thiên nhiên hồn hậu.

– “Vầng trăng đi qua ngõ – như người dưng qua đường”: Vầng trăng bây giờ đối với người lính năm xưa giờ chỉ là dĩ vãng, dĩ vãng nhạt nhòa của quãng thời gian xa xôi nào đó. Con người hững hờ với vầng trăng, hình ảnh vốn rất thân thiết.

– Biện pháp nhân hóa, so sánh: “Vầng trăng tình nghĩa” trở thành “người dưng qua đường”. Vầng trăng vẫn “đi qua ngõ”, vẫn tròn đầy, vẫn thủy chung tình nghĩa, nhưng con người đã quên trăng, hờ hững, lạnh nhạt, dửng dưng đến vô tình. Vầng trăng giờ đây bỗng trở thành người xa lạ, chẳng còn ai nhớ, chẳng còn ai hay biết.

– Rõ ràng, khi thay đổi hoàn cảnh, con người có thể dễ dàng quên đi quá khứ, có thể thay đổi về tình cảm.Nói chuyện quên nhớ ấy, nhà thơ đã phản ánh một sự thực trong xã hội thời hiện đại.

– Con người gặp lại vầng trăng trong một tình huống bất ngờ:

+ Tình huống: mất điện, phòng tối om.

+ “Vội bật tung”: vội vàng, khẩn trương, bất ngờ bắt gặp vầng trăng xưa.

– Chính cái khoảnh khắc bất ngờ ấy đã tạo nên bước ngoặt trong mạch cảm xúc của nhà thơ. Sự xuất hiện bất ngờ của vầng trăng khiến nhà thơ ngỡ ngàng, bối rối, gợi cho nhà thơ bao kỉ niệm nghĩa tình.

3. Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng hiện tại.

– Từ “mặt” được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển – mặt trăng, mặt người – trăng và người cùng đối diện đàm tâm.

– Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”, cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính.

– Và trong phút giây nhân vật trữ tình nhìn thẳng vào trăng – biểu tượng đẹp đẽ của một thời xa vắng, nhìn thẳng vào tâm hồn của mình, bao kỉ niệm chợt ùa về chiếm trọn tâm tư. Kí ức về quãng đời ấu thơ trong sáng, về lúc chiến tranh máu lửa, về cái ngày xưa hồn hậu hiện lên rõ dần theo dòng cảm nhận trào dâng, “như là đồng là bể, như là sông là rừng”. Đồng, bể, sông, rừng,những hình ảnh gắn bó nơi khoảng trời kỉ niệm.

Xem thêm:  Đề thi thử Đất nước theo hướng giảm tải 2020. đề số 2

– Cấu trúc song hành của hai câu thơ, nhịp điệu dồn dập cùng biện pháp tu từ so sánh, điệp ngữ và liệt kê như muốn khắc họa rõ hơn kí ức về thời gian gắn bó chan hòa với thiên nhiên, với vầng trăng lớn lao sâu nặng, nghĩa tình, tri kỉ. Chính thứ ánh sáng dung dị đôn hậu đó của trăng đã chiếu tỏ nhiều kỉ niệm thân thương, đánh thức bao tâm tình vốn tưởng chừng ngủ quên trong góc tối tâm hồn người lính. Chất thơ mộc mạc chân thành như vầng trăng hiền hòa, ngôn ngữ hàm súc, giàu tính biểu cảm như “có cái gì rưng rưng”,đoạn thơ đã đánh động tình cảm nơi người đọc.

– Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

– Hình ảnh “ánh trăng im phăng phắc” mang ý nghĩa nghiêm khắc nhắc nhở, là sự trách móc trong lặng im. Chính cái im phăng phắc của vầng trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính năm xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng là sự bừng tỉnh của nhân cách, là sự trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là lời ân hận, ăn năn day dứt, làm đẹp con người.

III – Tổng kết:

1. Nội dung:

Bài thơ là sự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước rất bình dị, hiền hậu. Qua đó nhắc nhở người đọc phải có một thái độ sống “ Uống nước nhớ nguồn”, thủy chung ân tình với quá khứ, nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương.

2. Nghệ thuật:

Bài thơ viết theo thể thơ năm chữ bố cục rõ ràng, mạch lạc. “Ánh trăng” có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự, hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa sinh động vừa khát, giàu tính biểu cảm, giọng điệu tâm tình tự nhiên như lời tâm sự của nhân vật trữ tình.

* Câu hỏi ôn tập:

Câu hỏi 1. Cảm nhận sự khác nhau giữa hình ảnh vầng trăng trong quá khứ (khổ 1+2) và vầng trăng trong hiện tại (khổ 3)

– Khổ 1: Dòng hoài niệm mở ra:

+ “Hồi nhỏ…hồi chiến tranh”: đánh dấu mốc thời gian

+ Phép liệt kê tăng cấp “ đồng, sông, bể”: Tuổi thơ gắn bó với sông nước, trăng sao đầy ắp kỉ niệm.

⇒ Chỉ thứ tự từ hẹp đến rộng, từ quê hương đến đất nước, mở rộng hơn là sự gắn bó giữa những con người ở quê hương đến đồng đội nhân dân.

+ “vầng trăng thành tri kỉ”: đất nước có chiến tranh, con người lên đường tham gia chiến đấu, ở rừng là những năm tháng khó khăn gian khổ, trăng được nhân hóa trở thành người bạn tri kỉ không thể nào quên..

⇒ Như vậy khi còn nhỏ nhân vật trữ tình sống chan hòa với thiên nhiên.

– Khổ 2: cảm nhận về vầng trăng nghĩa tình.

+ Phép so sánh sánh “trần trụi, hồn nhiên” kết hợp với phép liệt kê “ thiên nhiên, cây cỏ”: lối sống đơn giản, mộc mạc mọi buồn vui sướng khổ đều gắn bó với trăng.

+ Ngỡ: nghĩ là, tưởng là, vậy mà kết quả lại ngược lại.

+ Nhân hóa “cái vầng trăng tình nghĩa”: khẳng định mối quan hệ giữa người và trăng là bền vững mãi mãi.

⇒ Mạch thơ biến đổi đánh dấu một sự thay đổi lẽ ra phải trân trọng.

– Khổ 3: Vầng trăng trong hiện tại.

+ Khi chiến tranh kết thúc, người lính từ giã núi rừng trở về với thành phố nơi đô thị hiện đại.

+ Nhân hóa liệt kê “ánh điện cửa gương”- cuộc sống đầy đủ tiện nghi. Mặc dù vậy trăng vẫn tròn đầy lặng lẽ đi qua thành phố nhưng người bạn năm xưa chỉ coi trăng như một vật chiếu sáng.

+ Hình ảnh so sánh “vầng trăng đi qua ngõ- như người dưng qua đường”: thể hiện một sự bội bạc vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.

⇒ Hoàn cảnh sông thay đổi kéo con người đổi thay, quên đi ân tình trong quá khứ.

Câu hỏi 2. Vai trò của tình huống bất ngờ xuất hiện (khổ 4) trong bài thơ.

– Phép đảo ngữ từ láy “thình lình”, “ đột ngột “ được đưa lên đầu câu: nhấn mạnh sự việc bất ngờ là mất điện.

– Ba động từ “vội, bật, tung” đặt liền nhau: diễn tả sự khó chịu và hành động khẩn trương của nhân vật trữ tình đi tìm nguồn sáng.

– Ngay lúc đó trăng hiện ra “đột ngột” khiến con người bàng hoàng xúc động.

⇒ Tình huống gặp gỡ bất ngờ đánh thức những tình cảm vốn lặng chìm sâu trong tâm thức của con người. Vầng trăng đến bất ngờ làm sáng lên những góc tối trong tâm hồn, thức tỉnh sự ngủ quên trong diều kiện sống đã hoàn toàn đổi khác.

Câu hỏi 3. Cảm nhận những sự hối hận, ăn năn của con người khi nhận ra sự vô tình của mình (khổ 5+6)

– Khổ 5: Tâm trạng, cử chỉ của con người khi đối diện với vầng trăng.

+ Tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt”: là tư thế trực tiếp đối mặt.

+ Phép nhân hóa, từ mặt thứ hai chỉ vầng trăng tròn, đó là thiên nhiên hồn nhiên tươi mát, đó còn là quá khứ bạn bè tươi đẹp.

+ So sánh, liệt kê, điệp ngữ, lặp cấu tứ “ như là đồng là bể- như là sông là rừng”: diễn tả dòng hoài niệm ùa về và con người thấy trăng là thấy người bạn tri kỉ ngày nào.

⇒ Cảm xúc chừng như nén lại nhưng cứ trào ra thổn thức.

– Khổ 6: Bài thơ khép lại ở hình ảnh sâu lắng.

+ Trăng tròn đầy vành vạnh có hai lớp nghĩa: nghĩa tả thực về sự tròn đầy lung linh của trăng, thiên nhiên vũ trụ vĩnh hằng, gợi quá khứ bạn bè tươi đẹp chẳng thể phai mờ.

+ Trăng còn được nhân hóa “kể chi người vô tình- ánh trăng im phăng phắc” gợi thái độ bao dung, nhân hậu.

+ Trăng tròn vành vạnh-con người vô tình, trăng im phăng phắc- con người vô tình.

⇒ Câu thơ cuối mang ý nghĩa nhân văn, cái giật mình thức tỉnh của con người từng bội bạc trở nên đáng trân trọng bởi nhớ quên là lẽ thường tình, quan trọng là biết thức tỉnh lương tâm.

Câu hỏi 4: Dựa vào mạch tự sự của bài thơ,hãy cho biết nhà thơ tập trung nói về sự kiện nào.Đâu là chi tiết có tính bước ngoặt để nhà thơ bộc lộ tâm trạng của mình.

– Sự kiện chính: Buyn-đinh mất điện,nhà thơ mở cửa,bất ngờ gặp ánh trăng.Chi tiết mở cửa gặp trăng là chi tiết có ý nghĩa bước ngoặt,mở ra 1 trường tâm trạng của nhà thơ(nhớ về quá khứ,suy ngẫm về cách sống trong hiện tại…)

– Những từ “thình lình”, “vội”, “đột ngột”

– Gặp trăng trong tình thé bất ngờ nhưng đó là sự kiện tạo nếnự chuyển biến mạnh mẽ trong cảm nhận và suy nghĩ của nhà thơ.

Câu hỏi 5: Ý nghĩa hình ảnh vầng trăng trong bài thơ.

– Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều ý nghĩa tượng trưng:

+ Vầng trăng là hình ảnh của thiên nhiên hồn nhiên,tươi mát,là người bạn suốt thời nhỏ tuổi,hồi chiến tranh ở rừng.

+ Vầng trăng là biểu tượng của quá khứ nghĩa tình,hơn thế trăng còn mang vẻ đẹp bình dị,vĩnh hằng của đời sống.

+ Ở khổ thơ cuối,trăng tượng trưng cho quá khứ vẹn nguyên,chẳng thể phai mờ,là người bạn,nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc nhắc nhở nhà thơ và mỗi chúng ta.Con người có thể vô tình,có thể lãng quyên thiên nhiên nhưng thiên nhiên (quá khứ) thì luôn tròn trịa,bất diệt.

Xem thêm:  Dàn bài: Cảm nhân truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Câu hỏi 6: Nêu chủ đề của bài thơ “Ánh trăng”

– Bài thơ là tiếng lòng, là những suy ngẫm thấm thía,nhắc nhở ta về thái độ,tình cảm về đối với những năm tháng gian lao,tình nghĩa,đối với thiên nhiên,đất nước.

– Bài thơ có ý nghĩa nhắc nhở mọi người về thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”,ân nghĩa,thuỷchung.

Câu hỏi 7: Tính chất triết lý và chiều sâu suy ngẫm của bài thơ thể hiện rõ nhất ở đoạn thơ nào?Vì sao em khẳng định như vậy?

– Khổ thơ cuối thể hiện rõ nhất tính triết lý và chiều sâu suy ngẫm của nhà thơ:

+ “Trăng cứ tròn vành vạnh”: Thể hiện sự trong sáng,tròn đầy,thuỷ chung.

+ “Ánh trăng im phăng phắc”: Đó là sự im lặng nghiêm khắc mà nhân hậu,bao dung.

+ “Đủ cho ta giật mình”: Giật mình vì trăng đầy đặn nghĩa tình,mà mình lại có lúc quên trăng;giật mình vì trăng bao dung,nhân hậu,mà mình lại là kẻ vô tình;giật mình vì đã có lúc mình quên bạn bè,quên quá khứ.

– Qua đây bài thơ nhắc nhở mọi người phải biết hướng về quá khứ,phải thuỷ chung với quá khứ.

Câu hỏi 8: So sánh hình ảnh người lính qua 3 bài thơ: Đồng chí (Chính Hữu), Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật) và Ánh trăng của Nguyễn Duy.

Điểm chung: Vẻ đẹp trong tâm hồn tính cách của người lính cách mạng như lòng yêu quê hương đất nước, yêu tổ quốc, sẵn sàng hi sinh vì đất nước, tinh thần dũng cảm, lạc quan vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tình đồng chí đồng đội keo sơn gắn bó….

Điểm riêng: Mỗi người lính trong từng bài thơ có những nét đẹp riêng và đặt trong những hoàn cảnh khác nhau:

+ Bài thơ Đồng chí viết về người lính trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là những người lính xuất thân từ nông dân ở những làng quê nghèo khổ, tình nguyện, hăng hái ra đi chiến đấu. Tình đồng chí đồng đội của họ dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ, cùng chia sẻ những gian lao thiếu thốn và cùng chung mục đích lí tưởng chiến đấu. Tình đồng chí đồng đội là vẻ đẹp nổi bật của họ.

+ Bài thơ về tiểu đội xe không kính viết về những người chiến sỹ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chống Mỹ. Họ là những người lính dũng cảm, lạc quan yêu đời, hiên ngang, bất chấp khó khăn nguy hiểm có ý chí khát vọng giải phóng Miền Nam cháy bỏng.Đó là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

+ Bài thơ Ánh trăng là sự trăn trở, suy ngẫm của người lính đã đi qua cuộc chiến tranh nay sống trong hòa bình tự nhắc nhở thấm thía về thái độ, tình cảm đối với những năm tháng quá khứ gian lao, tình nghĩa, đối với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Đó chính là nét đẹp của người lính thời bình.

  • Cảm nhận bài thơ “Ánh Trăng” của Nguyễn Duy

Bài văn tham khảo:

Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của nguyễn Duy

  • Mở bài:

Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ – chiến sĩ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Đây là thế hệ từng trải qua bao thử thách, gian khổ, từng chứng kiến bao hi sinh lớn lao của nhân dân, đồng đội trong chiến tranh, từng sống gắn bó cùng thiên nhiên tình nghĩa. Nhưng khi đã trải qua máu lửa, nước nhà thống nhất, được sống trong hòa bình, giữa những tiện nghi hiện đại, người ta dễ quên những gian lao, nghĩa tình của một thời đã qua. Bài thơ “Ánh trăng” được viết trong bối cảnh cảm xúc đó, là một lần “giật mình” của Nguyễn Duy trước sự lãng quên ấy.

  • Thân bài:

Bố cục bài thơ có sự kết hợp giữa trữ tình và tự sự. Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian. Dòng cảm xúc của bài thơ được mang theo dòng tự sự này mà bộc lộ. Ba khổ đầu là kí ức về vầng trăng, gắn với hồi nhỏ, hồi chiến tranh rồi đến hồi về thành phố ( thời hòa bình), từ là “vần trăng tình nghĩa”, vầng trăng “tri kỉ” đến thành “người dưng qua đường”. Ba khổ cuối là cảm xúc trước vầng trăng hiện tại. Khổ thứ tư là bước ngoặt để bộc lộ cảm xúc. Vầng trăng đột ngột hiện ra trong cảnh mất điện đã gợi lại bao kỉ niệm, nghĩ suy.

“Ánh trăng” như một lời tự nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Bài thơ có ý nghĩa gợi nhắc củng cố ở người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn” ân nghĩa thủy chung cùng quá khứ. Bài thơ kết hợp giữa trữ tình và tự sự, hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa khái quát, giàu tính biểu cảm, giọng điệu tâm tình, tự nhiên.

Bài thơ mở ra dòng hoài niệm, bắt đầu từ quá khứ rất xa:

“hồi nhỏ sống với đồng

với sông rồi với biển

hồi chiến tranh ở rừng

vầng trăng thành tri kỷ”

Hoài niệm tuổi thơ thắm đẫm ánh trăng. Vầng trăng đã gắn bó sâu nặng với con người từ thuở ấu thơ, nhất là trong những năm tháng gian lao thời chiến tranh. Trăng là hình ảnh của thiên nhiên, hồn nhiên, tươi mát, thơ mộng, là tri kỉ của con người. Trong những năm tháng ấy người lính xông pha nơi trận mạc, gắn bó với những cánh rừng, với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu, với cuộc sống đơn sơ bùn đất.

Chính Hữu trong bài thơ Đồng chí, đã từng một lần nhắc đến vầng trung trung hậu, nghĩa tình ấy:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”.

Trăng cùng con người chia sẻ buồn vui, cùng con người vượt khó khăn, vào sinh ra tử. Trăng là điểm tựa tinh thần, là ước mơ và hi vọng của con người trong cuộc chiến đấu với kẻ thù. Trăng là bạn, là đồng chí kiên trung, bất khuất.

Người lính trong bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy cũng gắn bó với vầng trăng như thế. Thuở bé thơ, họ sống “hồn nhiên như cây cỏ”, “trần trụi với thiên nhiên”. Mọi niềm vui nỗi buồn đều gắn với đem trăng:

“trần trụi với thiên nhiên

hồn nhiên như cây cỏ

ngỡ không bao giờ quên

cái vầng trăng tình nghĩa”

Trăng là nguồn sáng, là vẻ đẹp, là bạn hữu tình, tri kỉ, trăng trở thành một phần của cuộc sống. Bởi thế, lòng đã tự hẹn lòng về một mối tình chung thủy, son sắc với vầng trăng, “ngỡ không bao giờ quên”. Từ “ngỡ” vừa bâng khuâng, vừa tiếc nuối như báo trước một sự đổi thay lớn lao, một nghĩa tình đáng ra phải được trân trọng.

Ấy thế mà, khi hoàn cảnh đổi thay tác động đến con người khiến con người lãng quên vầng trăng:

“từ hồi về thành phố

quen ánh điện cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường”

Thành phố không chỉ là một địa điểm khác mà là một cuộc sống mới của hòa bình khi chiến tranh đau thương đã lùi xa. Hòa bình, những người lính từ những cánh rừng trở về thành phố; cuộc sống thành phố đầy đủ tiện nghi, lấp lánh gương kính đèn màu, bởi thế, trăng vẫn rất gần- “đi qua ngõ”, vẫn là người bạn chung tình thuở trước nhưng lòng người đã thay đổi nên trăng thành người “dưng” và còn như “người dưng qua đường”. Lãng quên một cách trơ trẽn và tàn nhẫn.

Tri kỉ thành người dưng, câu thơ ngắn gọn, súc tích mà phần thơ không diễn đạt bằng lời thì vô cùng. Cái sự quên nhớ ấy cũng là lẽ thường. Thế nhưng, ở đây, ta bỗng ngậm ngùi cho sự bạc bẽo đáng trách của con người. Lẽ ra, khi cuộc sống đã tốt hơn, con người phải nghĩ đến, nhớ đến và gắn bó với vầng trăng – người bạn nghĩa tình – hơn nữa. Ngược lại, họ chỉ lo ngụp lặn trong đời sống tiện nghi, tận hưởng sự yên bình trong ích kỷ, nhỏ nhen.

Xem thêm:  Về bài ca dao Tát nước đầu đình

Cuộc sống cuốn theo dòng chảy của nó. Tưởng chừng như vầng trăng đã bị mờ chìm đi trước cuộc sống thị thành hoa lệ và nhiều lo toan, bận bịu. Thế nhưng nó đã có dịp hiện diện trong tầm nhìn của con người khi có một khoảnh khắc mà cuộc sống hiện đại biến mất, để rồi đánh thức kỉ niệm và gợi bao suy ngẫm:

“thình lình đèn điện tắt

phòng buyn-đinh tối om

vội bật tung cửa sổ

đột ngột vầng trăng tròn

ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng”

Nếu ở ba khổ đầu, giọng kể, nhịp trôi chảy bình thường dù cũng có sự biến đổi “từ hồi về thành phố” thì đến khổ thứ tư, giọng thơ đột ngột cất cao, với bước ngoặt của sự việc, với sự xuất hiện của vầng trăng. Hoàn cảnh của bài thơ được đẩy lên khi “Thình lình đèn điện tắt – phòng buyn-đinh tối om” và con người trong phút chờ diêm tìm lửa đã phản xạ như một thói quen: “vội bật tung cửa sổ”, và đột ngột tình cờ như được sắp đặt, vầng trăng tròn vành vạnh chờ bên cửa sổ. Vầng trăng tình nghĩa, không hao khuyết, vẫn như thuở nào. Còn con người thì lãng quên, bởi thế bây giờ gặp lại, đột ngột, bất ngờ.

Phép đảo ngữ với từ “thình lình” đặt lên đầu đã báo trước một cuộc gặp gỡ bất chợt mà kì diệu. Phép đảo ngữ thứ hai xuất hiện “đột ngột vầng trăng tròn” càng nhấn mạnh vào sự bất ngờ kì diệu của cuộc gặp gỡ. Thời gian lúc này như ngừng trôi cho cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn. Khi người và trăng, mặt nhìn mặt, thì phút chốc ùa dậy trong tâm trí người lính xưa bao kỉ niệm của những năm tháng gian lao, bao hình ảnh của thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Con người như lặng đi trong nỗi xúc động mãnh liệt, trong tư thế lặng im có phần thành kính: “Ngửa mặt lên nhìn mặt” và thoáng chút ngậm ngùi: “có cái gì rưng rưng”, cái rưng rưng như đọng nước mắt, vừa mừng vui, vừa nghẹn ngào.

Trăng và người như đã “đối diện toàn tâm”. Cuộc sống hiện tại như ngừng lại để con người soi vào quá khứ, vào một thời họ đã lãng quên, soi vào chính mình, nhìn trăng mà thấy: “như là đồng là bể – như là sông là rừng”. Giọng thơ trầm lắng, chậm rãi cùng các điệp ngữ như dồn về những lớp sóng của hoài niệm. Trăng gợi bao liên tưởng sâu sắc. Trăng nhắc nhớ về quá khứ, quá khứ xa và gần; đất nước và quê hương; thiên nhiên và cuộc sống; lao động và chiến đấu; tập thể và cá nhân.

Trăng gợi lên hình ảnh của hiện tại: sự giàu đẹp và nỗi vất vả gian lao còn phải phấn đấu, niềm tin và hy vọng, cái lớn lao, sự hùng vĩ của thiên nhiên cùng sức mạnh con người trong cuộc sống. Sự trở lại và liệt kê liên tiếp những hình ảnh: đồng, bể, sông, rừng, không gợi sự khô khan, mà gợi lên bao tình cảm, suy ngẫm, trải nghiệm. Những câu thơ như thước phim quay chậm của quá khứ qua con mắt người ngắm trăng. Đối diện với trăng là đối diện với một thuở ấu thơ, một thời trai trẻ, một huở hoa niên, một phần của cuộc đời. Câu thơ liền mạch, nhịp thơ ngân nga, thiết tha cảm xúc, như một lời tâm sự chân thành, sâu lắng.

Trong cuộc gặp lại không lời này, trăng và con người như có sự đối lập:

“trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình”

Trăng – hình ảnh của thiên nhiên, trong cảm nhận của con người, giờ đây theo quy luật tuần hoàn của nó, vẫn chiếu sáng, vẫn “tròn vành vạnh” dẫu cho “người vô tình”. Suốt bài thơ, vần trăng luôn được miêu tả gắn với các định ngữ (“tình nghĩa”, “tròn”), đến khổ cuối kết tinh trong hình ảnh “tròn vành vạnh”, đó là ân nghĩa thủy chung, là những giá trị tốt đẹp của quá khứ mãi vẹn nguyên. Cái im lặng của trăng, cái ánh sáng dịu mát của trăng không phải là một sự bất động mà lại làm cho con người suy ngẫm về mình. Con người như có sự ân hận, xót xa vì đã “vô tình”, vô tình với trăng cũng là vô tình với cuộc sống, với con người và cả với những gì thân thuộc, với quá khứ, với hiện tại.

Cái “im phăng phắc”, sự im lặng đầy tình nghĩa, không một lời trách cứ mà có phần nghiêm khắc của trăng đã đánh thức con người, làm xáo động tâm hồn người lính xưa. Con người “giật mình” trước ánh trăng lặng lẽ là sự bừng tỉnh của nhân cách, trở về với lương tâm trong sạch, tốt đẹp. Đó là một nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người. Cái “giật mình” chứa đựng cả tin yêu, hi vọng. Sự xao động trong lặng yên này như một mạch nước ngầm vọt trào lên sẽ xua đi bao lỗi lầm để vững vàng tạo một cuộc sống đẹp đẽ.

Giọng thơ từ thiết tha đến trầm lắng trong cảm xúc và suy tư lặng lẽ. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài tác giả nhiều lần nhắc đến “vầng trăng tròn”, còn đến đây lại nhắc đến Ánh trăng và tên tập thơ cũng là Ánh trăng. “Vầng trăng tròn” để nói về quá khứ thủy chung, tình nghĩa, vẹn nguyên, còn “ánh trăng” để nói đến vầng hào quang của quá khứ, ánh sáng của lương tâm, của đạo đức, cái ánh sáng rọi soi, thức tỉnh, để xua đi khuất tối trong tâm hồn.

Hình ảnh thơ đến đây gợi ra chiều sâu tư tưởng triết lí: vầng trăng không chỉ là hiện thân cho vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn là biểu tượng cho quá khứ nghĩa tình, hơn thế, trăng còn là vẻ đẹp bình dị mà vĩnh hằng của đời sống. Vầng trăng cứ tròn đầy và lặng lẽ kể chi người “vô tình” là biểu tượng cho sự bao dung, độ lượng, cho nghĩa tình thủy chung, trọn vẹn, trong sáng, vô tư, không đòi hỏi sự đền đáp. Đó chính là phẩm chất cao cả của nhân dân mà Nguyễn Duy cũng như nhiều nhà thơ cùng thời đã phát hiện và cảm nhận một cách sâu sắc trong thơ từ thời chiến tranh chống Mĩ.

Vầng trăng cứ tròn vành vạnh tượng trưng cho quá khứ đẹp đẽ, vẹn nguyên, chẳng thể mờ phai. “Ánh trăng im phăng phắc” chính là người bạn, nhân chứng nghĩa tình mà nghiêm khắc đang nhắc nhở nhà thơ (và cả trong mỗi chúng ta). Con người có thể vô tình, lãng quên, nhưng thiên nhiên, nghĩa tình quá khứ thì luôn tròn đầy, bất diệt. Ánh trăng vì thế không chỉ là chuyện của một người, một thế hệ – thế hệ từng sống hào hùng suốt một thời đánh giặc, mà có ý nghĩa với nhiều người, với mọi thời. Nó có ý nghĩa cảnh tỉnh, gợi cho mọi người sống ý nghĩa, sống đẹp, xứng đáng với, những người đã khuất, xứng đáng với chính mình, trân trọng quá khứ để vững bước trên đường tới tương lai.

  • Kết bài:

Bài thơ nói chuyện trăng mà lại là chuyện đời, khơi đúng cái mạch nguồn đạo lí truyền thống của dân tộc: thủy chung, ngĩa tình, uống nước nhớ nguồn, lời thơ thấm thía, xúc động, bởi trước hết nó là lời tự nhắc nhở với giọng trầm tĩnh mà lắng sâu.

  1. Zianh Nguyen

    25/06/2020 tại 8:54 chiều

    bài hay ạ

    Trả lời

Theo Taplamvan.edu.vn

Post Comment