Văn mẫu THCS

Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu rất hay

Đề bài: Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu

Bài làm

Trong thời gian kháng chiến bảo vệ đất nước, ngoài những lương thực, đạn dược, những đồ dùng cho chiến đấu thì chúng ta không thể kể thiếu món ăn tinh thần “thơ ca”. Những lời khích lệ, những lời động viên hay chính nỗi niềm được các nhà thơ trải lòng hộ đã phần nào giúp tinh thần người chiến sĩ vững vàng, tự tin, dũng cảm hơn nhường nào. Chính điều đó, đã chó rất nhiều nhà thơ, nhà văn viết về đề tài người chiến sĩ và một trong số đó, bài thơ “Đồng chí” , nhà thơ Chính Hữu đã cho chúng ta cảm nhận tình cảm thật bình dị của những người lính trên miền đất xa xôi khó khăn nhường nào.

Ngay tên nhan đề bài thơ “Đồng chí” đã thể hiện nội dung chủ đạo xuyên suốt bài thơ nói về tình đồng chí đồng đội trong chiến tranh. Là những con người cùng chí hướng, cùng mục tiêu sống, cùng lý tưởng cao cả, tất thảy “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Họ đã hoà thành một, với những cử chỉ cao đẹp, tình cảm bình dị đã gieo vào lòng người đọc cảm xúc khó quên về một khoảng trời thế kỷ trước ra sao?

Hình ảnh người lính tự lúc nào trở thành thi liệu quen thuộc trong thi ca. Họ mang hồn cốt của dân tộc, niềm tin yêu của người dân, sự tự hào khôn xiết hơn bao giờ hết. Vậy những người lính ấy họ là những con người như nào, xuất thân từ đâu? Vì thế, mở đầu bài thơ “Đồng chí”, Chính Hữu đã đề cập đến xuất thân của những người lính:

Quê hương anh đất mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Vốn dĩ đất nước ta là một dất nước nông nghiệp. Chính vì thế, hầu hết mọi người lính dưới thời kháng chiến chống Pháp đều xuất phát từ những người nông dân giản dị chân chất cùng với một tình yêu nước nồng nàn. “Anh, tôi” đều xuất thân từ những vùng quê nghèo, chân lấm tay bùn, vất vả sớm khuya lo chuyện đồng ruộng kiếm miếng cơm manh áo. Hai câu thơ sử dụng nghệ thuật đối, để nhấn mạnh, những người lính họ đều là những người nông dân, sống sau lớp luỹ tre già quẩn quanh trong ngôi làng thân thương của họ. Ấy vậy, những con người tưởng chừng chỉ lo quanh quanh miếng cơm cuộc sống mình thôi, khi có giặc ngoại xâm, họ là những người sẵn sàng gác lại tất cả để ra quân, vì đất nước, vì bảo vệ độc lập dân tộc. Thật là một cử chỉ cao đẹp! Và những người lính ấy, vốn dĩ mỗi người đến từ một phương khác nhau, chẳng hề quen biết:

Xem thêm:  Phân tích truyện An Dương Vương và Mỵ Châu - Trọng Thuỷ

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau

“Bốn phương trời ta về đây chung vui”, họ là những con người như vậy, đến từ những huyện thành khác nhau, xa lạ đấy, lạ lẫm đấy, nhưng tất thảy “chẳnng hẹn mà quen”. Mà thân thiết, mà găn bó kề vai sát cánh:

Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ

Đồng chí!

Vậy đó, những con người tưởng chừng xa lạ đó, đã thành “đôi tri kỷ”. Bởi trong khó khắn, trong chiến đấu họ luôn có nhau, luôn song hành sóng bước, không ai bỏ mặc ai “súng bên súng”. Và những thời tiết khắc nghiệt, những đêm đông gió lạnh san sẻ cùng nhau tấm chăn, cùng nhau chịu đựng. Vì thế, tự lúc nào, tiếng “Đồng chí!” vang lên. Câu thơ vang lên thật thân thương mà mãnh liệt làm sao. Gợi nhớ, gợi thương, gợi ra những hoàn cảnh khó khăn, gợi ra biết bao tình cảm mặn nồng. Họ là những người đồng chí, cùng chung nhiệm vụ “súng bên súng”, cùng chung một lý tưởng cao đẹp “đầu sát bên đầu”, vì nhân dân, vì những người thân yêu, vì tình yêu đất nước. Câu thơ như một bản lề để kết nối nội dung trên với nội dung khổ thơ dưới:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính

Đã gọi nhau một tiếng thân thương “đồng chí” nên họ đều là những con người giống nhau, cùng chung một mục đích, một hoàn cảnh. Nơi quê nhà, nơi “đồng chua đất mặn”, nơi “đất cày lên sỏi đá” họ có “ruộng nương”, “nhà cửa” để có miếng cơm manh áo, nơi trú ngụ. Đối với một người nông dân, còn gì quan trọng hơn là một tấm đất, một ngôi nhà. Ấy vậy, những người nông dân ấy “mặc kệ” gửi cho bạn hay gió lung lay. Từ “mặc kệ” đây không phải thái độ bất cần, không quan tâm đến mà là sự hy sinh cái cá nhân để hướng tới mục đích của cộng đồng. Thật cao thượng. Họ ra khỏi cái tôi lợi ích của cá nhân, đi theo tiếng gọi tình yêu của dân tộc, nặng lòng với đất nước. Bỏ lại tất cả sau lưng hình bóng quê nhà với một lời thề sắt son “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Dẫu cho tình cảm nhung nhớ, nỗi nhớ da diết mòn mỏi với quê nhà những người lính vẫn gác lại một bên. Hình ảnh “giếng nước gốc đa” là một hình ảnh hoán dụ, chỉ những người thân yêu ở làng quê, ngóng đợi chờ, nhớ nhung người lính nhường nào. Trong nỗi lòng họ, nổi nên một nỗi niềm lo sợ, sự hy sinh của các anh, niềm đau thương mất mát. Những người lính biết và hiểu điều đó, nhưng trên tất thảy, các anh hiểu được một sự thật, một chân lý, muốn cho những người thân thương một cuộc sống hạnh phúc, muốn bảo vệ ngôi làng với bao kỷ niệm tuổi thơ đồng nghĩa các anh phải ra trận, đánh đuổi giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, không chỉ bản chất của những người lính thật thà, chân chất mà cử chỉ hành động của họ thật cao đẹp với một tấm lòng biết hy sinh cá nhân…

Xem thêm:  Đoàn kết là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta

Trong chiến đấu, những người lính chắc chắn gặp phải những khó khăn gian nan thử thách, điều đó không thể trách được nơi chiến trường khắc nghiệt:

Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người, vừng trán ướt mồ hôi

auto draft 9 - Phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu rất hay

Phân tích bài thơ Đồng chí

Những đêm hành quân lạnh lẽo, những đêm đông gió lạnh trong rừng hoang vắng, những người lính không tránh khỏi những trận ốm thập tử nhất sinh. Sốt nóng sốt rét, “ớn lạnh”, run người bần bật, ướt đẫm mồ hôi, tất thảy họ đều phải trải qua sự khắc nghiệt của thời tiết. Lúc bấy giờ, đất nước còn thiếu thốn, không đủ tư trang cần thiết, lương thực thuốc men cho những người lính. Họ đã dùng ý chí nghị lực, sự tương trợ để vượt qua tất cả:

 

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!

Khổ thơ với những câu thơ ngắn, nhịp thơ ngắt đoạn, để thấy được sự thiếu thốn nhường nào, khó khăn nhường nào. Và làm nổi bật nên tình đồng chí đồng đội trong gian khó, giúp đỡ nhau hoạn nạn. Những người lính quần dù tồi tàn đắp vá, nhưng vẫn sẵn lòng cho những mảnh vá lên chỗ áo rách vai cuả người lính. Họ đã san sẻ cho nhau những thứ nhỏ nhặt nhất, giúp đỡ nhau khi có thể nhất. Những ngày đông buốt giá, những đôi chân trần lần lượt đi trên đá trên cát, trên cái không khí lạnh cắt da cắt thịt. Ấy vậy, những đôi chân ấy vẫn tiếp tục bước, lội suốt trèo đeo, leo ghềnh thác và thấp thoáng những nụ cười trên môi trong ngày giá lạnh. Họ cười san sẻ với nhau tinh thần, sự lạc quan về một tương lai để vượt qua khó khăn chập trùng. Hơn tất thảy “tay nắm lấy bàn tay”, những người đồng chí “thương nhau”, chia sẻ tình thương nỗi khó khăn qua cái “năm tay”. Cái “nắm tay” ấy thương thân, ấm áp nhường nào. Cái “nắm tay” truyền cho nhau hơi ấm tình người, truyền cho nhau tình thần sự lạc quan, ý chí nghị lực, dắt tay nhau cùng vượt qua khó khăn, cùng chiến đấu, vì Đất nước. Những người lính là vậy, bản lĩnh dũng cảm, nghị lực ý chí nhưng thật đơn giản và nồng nàn tình cảm làm sao. Nhưng không chỉ vậy, hình ảnh người lính không dừng lại ở đó, nhà thơ Chính Hữu đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn người lính ngời sáng lấp lánh qua khổ thơ cuối:

Xem thêm:  Soạn bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác

Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo

Chỉ với ba câu thơ ngắn, nhà thơ Chính Hữu đã miêu tả về không gian thời gian nơi chiến trường. Thời gian là buổi đêm lạnh lẽo, không gian là rừng sâu hoang vắng dày đặc những làn sương lạnh thấu sương buốt giá. Không gian và thời gian thậtb khó khăn cho những người lính. Họ đứng trong đêm trong rừng lạnh lẽo ấy để thực hiện nhiệm vụ “chờ giặc tới”. Thật may, trong khung cảnh ấy, những người lính không lẻ loi, mà họ “bên nhau”, cùng nhau chờ giặc, cùng nhau chiến đấu, cùng nhau tất thảy mọi điều. Và hình ảnh cuối cùng “Đầu súng trăng treo” như một đôi cánh nâng hồn bài thơ bay bổng nhường nào. Trăng luôn là hình ảnh găn liền với những người lính, là người bạn tri kỷ soi đường hành quân cùng các anh. Ở đây, trăng cùng nguòi lính canh gác chờ đợi giặc đến. Ánh trăng bàng bạc phần nào xua tan đi cái lạnh giá của “rừng hoang sương muối”. Những người lính gác súng trên vai. Đầu ngọn súng dựng thẳng chênh chếch. Vầng trăng lơ lửng trên bầu trời. Hình ảnh ấy, khiến chúng ta liên tưởng, đầu súng đang treo lơ lừng vầng trăng. Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh chất lãng mạn trong câu thơ, trong tâm hồn người chiến sĩ. Tâm hồn lãng mạn hoà trong cốt cách của người chiến sĩ.

Như vậy, với thể thơ tự do, ngôn từ giản dị, nhịp thơ linh động, nhà thơ Chính Hữu đã cho chúng ta hiểu hơn về hình ảnh người lính trong những buổi đầu kháng chiến cứu nước. Những cao người có một tấm lòng cao thượng, dũng cảm mạnh mẽ, nghị lực, một tình yêu nước nồng nàn, cùng một tâm hồn lãng mạn đẹp đẽ vô ngần.

Hoa

Từ khóa tìm kiếm

  • phân tích đồng chí

Post Comment