Soạn bài Vịnh khoa thi Hương

Soạn bài Vịnh khoa thi Hương

Hướng dẫn

I.Tác phẩm

Vịnh khoa thi hương là bài thơ thuộc đề tài thi cử – một đề tài khá đậm nét trong sáng tác của Tú Xương – đã thể hiện thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ đối với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông. Qua bài thơ này, tác giả vẽ nên một phần hiện thực nhốn nháo, ô hợp của xã hội thực dân nửa phong kiến buổi đầu, đồng thời nói lên tâm sự của mình trước tình cảnh đất nước

II.Tìm hiểu tác phẩm

Câu 1. Sự khác thường trong kì thi

Hai câu thơ mở đầu có tính tự sự, nhằm kể lại kì thi. Câu thơ tưởng chừng không có gì đặc biệt bởi kì thi ba năm mở một lần, đúng theo lệ thời phong kiến. Nhưng sự bất bình thường đã thể hiện trong câu thơ thứ hai, đó là cách thức tổ chức kì thức: trường Nam thi lẫn với trường Hà. Từ lẫn đã thể hiện sự ô hợp, nhốn nháo trong thi cử.

Câu 2. Hình ảnh sĩ tử và quan trường

Hai câu thực đã thể hiện rõ sự ô hợp của kì thi. Tác giả chú ý miêu tả hai đối tượng chủ yếu nhất trong các kì thi: sĩ tử (người đi thi) và quan trường (người coi thi). Biện pháp đạo ngữ: lôi thôi sĩ tử cho thấy sự luộm thuộm, không gọn gàng của các sĩ tử trong kì thi. Đó là hình ảnh khái quát sự sa sút về nho phong sĩ khí do sự ô hợp, nhốn nháo của xã hội đưa lại.

Hình ảnh quan trường ậm ọe miệng thét loa gợi lên cái oan nhưng là cái oai cố tạo ra. Từ ậm ọe biểu đạt âm thanh của tiếng nói nhưng bị cản lại trong cổ họng đã khẳng định cái oai hờ của quan trường. Biện pháp đảo ngữ ậm ọe quan trường cũng giúp người đọc hình dung được tính chất lộn xộn của trường thi.

Câu 3. Sức mạnh châm biếm, đả kích của bài thơ.

Đối lập với hình ảnh sĩ tử và quan trường là hình ảnh quan sứ và bà đầm. Hai nhân vật này được đón tiếp linh đình: cờ cắm rợp trời. Biện pháp đảo ngữ kết hợp với nghệ thuật đối đã được vận dụng một cách triệt để,t ạo nên sức mạnh đả kich, châm biếm dữ dội, sâu cay: cờ trước, người sau, váy trước, người sau. Tú Xương đã đem cờ che đầu quan sứ đối lập với váy bà đầm, điều này tạo nên một tiếng cười nhưng ẩn trong đó không ít nỗi xót xa.

Câu 4. Tâm trạng, thái độ của tác giả

Hai câu kết chuyển đổi giọng điều từ mỉa mai, châm biếm sang trữ tình. Đó là lời kêu gọi, đánh thức lương tri. Câu hỏi phiếm chỉ: Nhân tài đất Bắc nào ai đó không chỉ hướng đến các sĩ tử năm đó mà còn đến những người được xem là nhân tài đất Bắc. Từ một khoa thi bình thường, tác giả đã làm nổi bật bức tranh hiện thực xã hội đương thời, bên cạnh đó còn thể hiện nỗi đau, nỗi nhục mất nước của tác giả.